$nbsp;

X

GLUCOSAMINE SULFATE – Những minh chứng về tác dụng với bệnh lý xương khớp.

Glucosamine là một cái tên quen thuộc trong điều trị bệnh xương khớp. Tuy nhiên hiểu đúng và dùng đúng mới có thể tạo được hiệu quả điều trị tốt nhất cho người bệnh. Các minh chứng khoa học về công dụng của Glucosamine sulfate dưới đây sẽ giúp chúng ta đánh giá được đúng những lợi ích của thành phần này.

GLUCOSAMINE SULFATE – Những minh chứng về tác dụng với bệnh lý xương khớp.

Glucosamine là gì?

Glucosamine là một đường amino (aminosaccharide) được tổng hợp và tồn tại dưới dạng gắn với các phân tử protein và lipid khác nhau trong cơ thể. Nó có nhiều trong thành phần cấu tạo của chitin, trong lớp vỏ của các loài giáp xác (cua, tôm hùm, vv) và côn trùng. Đây cũng là nguồn thực phẩm chủ yếu bổ sung glucosamine cho cơ thể con người.

Trong cơ thể, glucosamine có vai trò quan trọng trong việc tạo thành một loại protein có tên là aggrecan. Agrrecan là thành phần chính của sụn khớp, có chức năng tăng cường sự ổn định và sức bền của mô sụn (Setnikar, Cereda et al. 1991). Hình thức phổ biến nhất và được chứng minh là có hiệu quả nhất trong bổ sung chất này là glucosamine sulfate (Bruyère, Altman et al. 2016).

Những minh chứng cơ sở khoa học của glucosamine sulfate?

Glucosamine tham gia vào cấu trúc của phân tử protein aggrecan và có vai trò quan trọng trong cấu trúc của chuỗi glycosaminoglycan (GAG). Chúng giúp điều hòa áp suất trong mô sụn, giúp cho khớp linh hoạt trong việc chống lại áp lực đè lên sụn khớp khi cơ thể chuyển động (Roughley, Martens et al. 2006). Theo thời gian, các khớp chịu nén và hoạt động kéo dài sẽ dẫn tới việc phá hủy không hồi phục phần sụn khớp. Những tác hại “ăn mòn” này có thể tích tụ từ từ ít một mà không có triệu chứng điển hình. Lâu dần, sẽ dẫn đến viêm khớp và thoái hóa khớp, với hình ảnh tổn thương đặc trưng là sự phá hủy các mô sụn do chịu tải và chịu nén kéo dài mà không được bổ sung hồi phục lớp chất nền GAG (Reginster, Bruyere et al. 2005).

Khi cơ thể được bổ sung glucosamine, sẽ làm tăng lượng aggrecan và lượng glycosaminoglycan, từ đó sẽ góp phần tái tạo hoặc làm chậm lại quá trình phá hủy cấu trúc nền của mô sụn khớp. Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh khi bổ sung glucosamine sulfate bằng đường uống sẽ có những lợi ích:

- Làm giảm các chất gây phá hoại khớp dẫn đến viêm khớp bao gồm cả các phân tử prostaglandin E2 (Largo, Alvarez-Soria et al. 2003, Largo, Calvo et al. 2005, Taniguchi, Ryu et al. 2012).

Trên thực nghiệm, glucosamine đã được chứng minh có tác động ở cấp độ gen, cụ thể làm ức chế biểu hiện của gen gây ra sự thay đổi mô sụn trong viêm xương khớp (Uitterlinden, Jahr et al. 2006). Tác dụng ngăn ngừa sự hủy hoại của các tế bào sụn thấy rõ hơn ở nhóm sử dụng glucosamine sulfat so với glucosamine hydrochloride (Altman, Abramson et al. 2006, Reginster, Bruyere et al. 2007).

- Glucosamine có tác dụng làm giảm phản ứng viêm của khớp:

Trong các khớp bị viêm có sự gia tăng interleukin-1β (IL-1β). Chính IL-1β này có liên quan đến phản ứng viêm và tăng cường phá hủy các tế bào sụn trong viêm khớp. Một nghiên cứu lớn từ năm 2010 và một nghiên cứu mới đây năm 2016, cho thấy glucosamine có tác dụng chống lại sự phá hủy tế bào sụn bởi IL-1β. Glucosamine hỗ trợ cân bằng mức độ dị hóa (phá hủy tế bào) và tổng hợp (sản xuất tế bào mới), góp phần ngăn ngừa tổn thương sụn trong viêm khớp và gia tăng tái tạo mô sụn mới (Calamia, Ruiz-Romero et al. 2010, Dalirfardouei, Karimi et al. 2016).

- Có tác dụng giảm đau trong viêm khớp khi dùng kéo dài:

Một số lượng lớn những nghiên cứu đã chỉ ra glucosamine có tác dụng thực sự trong việc giảm các triệu chứng của viêm khớp, đặc biệt là triệu chứng đau. Liều dùng 1500mg glucosamine sulfate/ngày, liên tục trong thời gian 4 tuần cho thấy hiệu quả giảm đau khớp rõ rệt với các bệnh nhân bị viêm khớp, hoặc giảm đau cơ với những hoạt động thể chất kéo dài với cường độ cao. Các nghiên cứu cũng lại một lần nữa khẳng định hiệu quả của glucosamine sulfate so với các dạng glucosamine đường uống khác (Calamia, Ruiz-Romero et al. 2010, Bruyère, Altman et al. 2016, Bhathal, Spryszak et al. 2017).

- Glucosamine sulfat làm giảm đau và góp phần cải thiện chức năng với bệnh lý thoái hóa đĩa đệm (Wilkens, Storheim et al. 2012).

- Glucosamine sulfate cho thấy lợi ích tương tự trong việc giảm đau và tăng khả năng thực hiện các hoạt động bình thường tương đương ibuprofen mà không gây tác dụng phụ khi sử dụng kéo dài (Broglio, Pergolizzi et al. 2017). Đây là tin tuyệt vời cho bất cứ ai bị đau khớp có tác dụng phụ (hoặc không thích) dùng thuốc chống viêm NSAIDs.

Một trong những cơ sở dữ liệu lớn hơn dựa trên những chứng cứ đáng tin cậy là thư viện Cochrane, đã nhận định việc sử dụng glucosamine sulfate đường uống cho thấy có hiệu quả giảm đau và cải thiện chất lượng hoạt động của khớp (Cameron and Chrubasik 2014).

Những lưu ý và thận trọng khi sử dụng glucosamine sulfate.

Glucosamine sulfate đã được nghiên cứu và chứng minh là tuyệt đối an toàn khi sử dụng kéo dài bằng đường uống kéo dài lên tới 8 tuần, thậm chí kể cả ở các trường hợp cao tuổi, thuốc cũng được đánh giá là rất an toàn, ít tác dụng phụ (Bruyère, Altman et al. 2016, Broglio, Pergolizzi et al. 2017).

 * Những cảnh báo đặc biệt:

+ Bệnh nhân hen: Nhìn chung glucosamine sulfate an toàn khi sử dụng ở những bệnh nhân này (Tallia and Cardone 2002).

+ Đái đường: Glucosamine sulfate không gây nguy cơ tăng đường máu. Các bệnh nhân bị viêm xương khớp có kèm theo đái tháo đường hoàn toàn có thể sử dụng một cách an toàn. Những nghiên cứu mới đây còn cho thấy khi sử dụng glucosamine sulfate kéo dài làm tăng nhẹ mức insulin máu, có lợi cho bệnh nhân đái đường (Simon, Marks et al. 2011).

+ Tăng cholesterol: Glucosamine sulfate không gây tăng cholesterol ở người, tuy nhiên cần theo dõi thêm xét nghiệm mức cholesterol máu 1 lần/ tháng, trong thời kỳ sử dụng glucosamine sulfate (Östergaard, Hviid et al. 2007).

+ Bệnh nhân tăng huyết áp: Glucosamine sulfate không gây tăng huyết áp. Nhưng cũng cần khuyến cáo theo dõi sát đối với nhóm bệnh nhân viêm khớp hoặc thoái hóa khớp có kèm theo tăng huyết áp khi sử dụng glucosamine sulfate (Gregory 2001).

+ Bệnh nhân phẫu thuật: Glucosamine sulfate có ảnh hưởng đến nồng độ đường máu, do đó cần ngừng uống glucosamine sulfate 2 tuần trước khi thực hiện phẫu thuật.

+ Sử dụng thuốc chống đông Warfarin: Thận trọng khi sử dụng glucosamine sulfate với các bệnh nhân phải sử dụng thuốc chống đông kéo dài. Glucosamine sulfate có thể làm tăng tác dụng của Warfarin gây ra chảy máu kéo dài (Knudsen and Sokol 2008).

+ Các bệnh nhân ung thư sử dụng hóa chất chống phân bào, cần thận trọng khi dùng kèm glucosamine sulfate. Ở các bệnh nhân này tốt nhất không nên sử dụng glucosamine sulfate trong thời gian điều trị hóa chất vì sẽ làm giảm tác dụng của hóa chất.

Ngoài ra, các trường hợp sử dụng thuốc giảm đau nhóm NSAIDs, cần phải hạ liều khi dùng kèm với glucosamine sulfate. Đây chính là lợi ích của glucosamine sulfate khi dùng kèm NSAIDs vì làm giảm liều và thời gian sử dụng NSAIDs sẽ làm giảm các biến chứng của NSAIDs đặc biệt là với đường tiêu hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Altman, R., S. Abramson, O. Bruyère, D. Clegg, G. Herrero-Beaumont, E. Maheu, R. Moskowitz, K. Pavelka and J.-Y. Reginster (2006). “Commentary: osteoarthritis of the knee and glucosamine.” Osteoarthritis and Cartilage 14(10): 963-966.

Bhathal, A., M. Spryszak, C. Louizos and G. Frankel (2017). “Glucosamine and chondroitin use in canines for osteoarthritis: A review.” Open Vet J 7(1): 36-49.

Broglio, K., J. Pergolizzi, M. Kowalski, S. Y. Lynch, E. He and W. Wen (2017). “Long-term effectiveness and safety of once-daily, single-entity, extended-release hydrocodone in patients of≥ 75 years of age with moderate to severe nonmalignant and nonneuropathic pain.” Geriatric Nursing 38(1): 39-47.

Bruyère, O., R. D. Altman and J.-Y. Reginster (2016). Efficacy and safety of glucosamine sulfate in the management of osteoarthritis: evidence from real-life setting trials and surveys. Seminars in arthritis and rheumatism, Elsevier.

Bruyère, O., R. D. Altman and J.-Y. Reginster (2016). “Efficacy and safety of glucosamine sulfate in the management of osteoarthritis: Evidence from real-life setting trials and surveys.” Seminars in Arthritis and Rheumatism 45(4): S12-S17.

Calamia, V., C. Ruiz-Romero, B. Rocha, P. Fernández-Puente, J. Mateos, E. Montell, J. Vergés and F. J. Blanco (2010). “Pharmacoproteomic study of the effects of chondroitin and glucosamine sulfate on human articular chondrocytes.” Arthritis research & therapy 12(4): R138.

Cameron, M. and S. Chrubasik (2014). “Oral herbal therapies for treating osteoarthritis.” The Cochrane Library.

Dalirfardouei, R., G. Karimi and K. Jamialahmadi (2016). “Molecular mechanisms and biomedical applications of glucosamine as a potential multifunctional therapeutic agent.” Life sciences 152: 21-29.

Gregory, P. (2001). “Does Glucosamine increase serum lipid levels and blood pressure.” Pharmacist’s letter/Prescriber’s letter 17: 17115.

Knudsen, J. F. and G. H. Sokol (2008). “Potential Glucosamine‐Warfarin Interaction Resulting in Increased International Normalized Ratio: Case Report and Review of the Literature and MedWatch Database.” Pharmacotherapy: The Journal of Human Pharmacology and Drug Therapy 28(4): 540-548.

Largo, M. A.-S. R., E. Calvo, J. Egido and G. Herrer-Beaumont (2005). “Differential anticatabolic profile of glucosamine sulfate versus other anti-osteoarthritic drugs on human osteoarthritic chondrocytes and synovial fibroblast in culture.”

Largo, R., M. Alvarez-Soria, I. Dıez-Ortego, E. Calvo, O. Sanchez-Pernaute, J. Egido and G. Herrero-Beaumont (2003). “Glucosamine inhibits IL-1β-induced NFκB activation in human osteoarthritic chondrocytes.” Osteoarthritis and Cartilage 11(4): 290-298.

Östergaard, K., T. Hviid and J. Hyllested-Winge (2007). “The effect of glucosamine sulphate on the blood levels of cholesterol or triglycerides–a clinical study.” Ugeskrift for laeger 169(5): 407-410.

Reginster, J.-Y., O. Bruyere and A. Neuprez (2007). “Current role of glucosamine in the treatment of osteoarthritis.” Rheumatology 46(5): 731-735.

Reginster, J., O. Bruyere, G. Fraikin and Y. Henrotin (2005). “Current concepts in the therapeutic management of osteoarthritis with glucosamine.” BULLETIN-HOSPITAL FOR JOINT DISEASES NEW YORK 63(1/2): 31.

Roughley, P., D. Martens, J. Rantakokko, M. Alini, F. Mwale and J. Antoniou (2006). “The involvement of aggrecan polymorphism in degeneration of human intervertebral disc and articular cartilage.” Eur Cell Mater 11(1): 1-7.

Setnikar, I., R. Cereda, M. Pacini and L. Revel (1991). “Antireactive properties of glucosamine sulfate.” Arzneimittel-forschung 41(2): 157-161.

Simon, R., V. Marks, A. Leeds and J. Anderson (2011). “A comprehensive review of oral glucosamine use and effects on glucose metabolism in normal and diabetic individuals.” Diabetes/metabolism research and reviews 27(1): 14-27.

Tallia, A. F. and D. A. Cardone (2002). “Asthma exacerbation associated with glucosamine-chondroitin supplement.” The Journal of the American Board of Family Practice 15(6): 481-484.

Taniguchi, S., J. Ryu, M. Seki, T. Sumino, Y. Tokuhashi and M. Esumi (2012). “Long‐term oral administration of glucosamine or chondroitin sulfate reduces destruction of cartilage and up‐regulation of MMP‐3 mRNA in a model of spontaneous osteoarthritis in Hartley guinea pigs.” Journal of Orthopaedic research 30(5): 673-678.

Uitterlinden, E., H. Jahr, J. Koevoet, Y. Jenniskens, S. Bierma-Zeinstra, J. DeGroot, J. Verhaar, H. Weinans and G. Van Osch (2006). “Glucosamine decreases expression of anabolic and catabolic genes in human osteoarthritic cartilage explants.” Osteoarthritis and Cartilage 14(3): 250-257.

Wilkens, P., K. Storheim, I. Scheel, L. Berg and A. Espeland (2012). “No effect of 6-month intake of glucosamine sulfate on Modic changes or high intensity zones in the lumbar spine: sub-group analysis of a randomized controlled trial.” Journal of negative results in biomedicine 11(1): 13.

 (HealthGMP tổng hợp)

Content Protection by DMCA.com
Bình luận của bạn
Tin tức liên quan