$nbsp;

X

Loãng xương- một trong những bệnh phổ biến nhất ở Việt Nam

      Mặc dù mức độ phổ biến của loãng xương và các yếu tố nguy cơ gây loãng xương đã được ghi nhận trong quần thể người da trắng và loãng xương với hệ quả của nó là gãy xương đã được công nhận là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trên toàn cầu nhưng hiện vẫn còn thiếu các dữ liệu từ châu Á. Do mất xương xảy ra âm thầm và không có triệu chứng ban đầu nên loãng xương chỉ thường được chẩn đoán sau lần bị gãy xương lâm sàng đầu tiên (Unnanuntana và cộng sự năm 2010; Vestergaard và cộng sự năm 2005). Loãng xương và gãy xương có thể ngăn ngừa được nếu chúng ta chẩn đoán sớm hoặc xác định được các yếu tố nguy cơ cao.

     Loãng xương thường là hệ quả tự nhiên của quá trình lão hóa đặc biệt sau tuổi 50. Sự già hóa dân sô đang gia tăng nhanh ở Việt Nam với khoảng 9 triệu phụ nữ và nam giới ở độ tuổi trên 50 vào năm 2012 (tương đương với tổng dân số Thụy Điển), đây là dối tượng cần quan tâm.

Loãng xương ở VN

Loãng xương thường là hệ quả tự nhiên của quá trình lão hoá sau tuổi 50

     Loãng xương cũng thường được coi là hậu quả của công nghiệp hóa bởi tỷ lệ gãy xương do loãng xương ở các quốc gia đã công nghiệp hóa cao hơn so với nước đang phát triển (Lau và cộng sự năm 2001). Thậm chí, ngay trong một quốc gia, tỷ lệ bị gãy xương ở đô thị cao hơn so với cộng đồng nông thôn (Chevalley và cộng sựu năm 2002; Madhok và cộng sự năm 1993; Mannius và cộng sự năm 1987; Sanders và cộng sự năm 2002). Do sự phát triển kinh tế trong thời gian gần đây, Việt Nam đã trải qua quá trình đô thị hóa nhanh chóng và có một khác biệt rõ ràng giữa khu vực đô thị và nông thôn. Trong quá trình này, sự khác biệt về lối sống, chế độ ăn uống và thói quen làm việc cũng như sự tiếp xúc với không khí và môi trường ô nhiễm đã dần dần hình thành và phát triển giữa những người dân sống trong các điều kiện khác nhau. Do đó, các nghiên cứu về loãng xương ở các quốc gia đang phát triển mới nổi là yếu tố quan trọng giúp cung cấp thêm thông tin về sự phát triển của bệnh.

     Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn thiếu kiến thức về sự lưu hành của loãng xương. Sự thay đổi mật độ xương theo tuổi, giá trị về khối lượng xương đỉnh và các yếu tố nguy cơ cho phép sàng lọc trong các quần thể còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

      Một dự án phối hợp giữa Bộ môn Sinh lý (Đại học Y Hà Nội) với Viện nghiên cứu Y học Đinh Tiên Hoàng, Khoa sức khỏe bà mẹ và trẻ em – Viện Karolinska, Thụy Điển đã lần đầu tiên đưa ra được giác trị tham chiếu về mật MĐX đỉnh cho đối tượng nam và nữ giới Việt Nam. Ở phụ nữ, giá trị MĐX đỉnh nghiên cứu tương ứng với những dữ liệu khác trên người châu Á nhưng mức độ lưu hành của loãng xương cao hơn và tương đương với quần thể người da trắng. Ở đàn ông, MĐX đỉnh một hơi thấp so với những quần thể người châu Á và người da trắng, nhưng mức độ lưu hành của loãng xương khá tương đồng. Khi xác định mật độ xương tại cổ xương đùi, tỷ lệ lưu hành của loãng xương ở phụ nữ là 17-23% và đàn ông là 9%. Có nhiều phụ nữ hơn (37-49%) có nguy cơ bị xún xẹp đốt xương thắt lưng và dâu do hậu quả của loãng xương ở cột sống. Những dữ liệu này gợi ý rõ ràng rằng loãng xương là một vấn đề về sức khỏe cộng đồng quan trọng ở Việt Nam.

     Những yếu tố dự báo mật độ xương có ý nghĩa ở nam giới là tuổi, BMI và nồng độ Estrogen huyết thanh. Ở các phụ nữ sau mãn kinh, tuổi, cân nặng và khu vực sinh sống (nông thôn và thành thị) là những yếu tố dự báo quan trọng nhất. Những phụ nữ tiền mãn kinh sống ở thành thị bị loãng xương nhiều hơn so với những người ở nông thôn.

Nồng độ 25(OH)D trong huyết thanh có liên quan mật thiết với khối lượng xương ở cả nam và nữ. Tỷ lệ lưu hành của thiếu vitamin D rất cao (ngay cả khi sử dụng ngưỡng thấp là 20mg/ mL), ước tính khoảng đạt mức 30% ở nữ giới và 16% ở nam giới. Phát hiện này có thể được giải thích một phần do việc ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời (ở người dân thành thị và trong mùa đông), đặc biệt ở phụ nữ trẻ dưới 30 tuổi.

Tác động của nghiên cứu:

     Nghiên cứu này có những đóng góp quan trọng trong việc cải thiện hiểu biết về loãng xương ở nam giới và nữ giới Việt Nam.

     Đây là một trong những nghiên cứu lớn nhất về sự liên quan giữa tình trạng vitamin D và các hormone sinh dục steroid với MĐX ở quần thể người châu Á. Kết quả có thể được khái quát hóa cho cả vùng nông thôn và thành thị, ít nhất là tại miến Bắc Việt Nam.

     Thành phần aglycone trong sữa đậu nành trên thị trường được định lượng bằng HPLC, đây là một kĩ thuật có chất lượng và độ nhạy cao. Kết luận các sản phẩm sữa đậu nành trên thị trường chứa hàm lượng aglycone thấp. Do đó, trừ khi có một sản phẩm mới ra đời, chiến dịch khuyến khích người dân uống sữa đậu nành sẽ chỉ có tác động nhỏ lên việc ngăn ngừa loãng xương.

Tiềm năng trong tương lai

     Trong tương lai, những dữ liệu trên sẽ có tác dụng như một cơ sở tư liệu có giá trị nhằm chẩn đoán loãng xương và kiểm soát hậu quả loãng xương trên lâm sàng. Sự phổ biến của tình trạng thiếu vtamin D có thể giúp nâng cao nhận thức những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có thể gặp phải, thí dụ như loãng xương, cũng như các bệnh nghiêm trọng khác trong cộng đồng người Việt Nam.

     Nồng độ Estrogen rất quan trọng với khối lượng xương ở cả nam và nữ giới. Trong thực hành lâm sàng, cả hai hormone sinh dục, Estrogen và Testosterone nên được định lượng ở cả bệnh nhân nam và nữ bị loãng xương. Đối với cộng đồng, nên đưa ra các thông tin về mối quan hệ giữa các nguy cơ có thể xảy ra với sự suy giảm nồng độ hormone sinh dục, ví dụ như hút thuốc lá.

     Những người dân ở nông thôn có khổi lượng xương tốt hơn so với những người ở thành thị. Vì vậy, cần khuyến khích lối sống khỏe mạnh như ở một số cộng đồng nông thôn, ví dụ như cần nhấn mạnh tầm quan trọng của dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể lực vừa phải và môi trường không ô nhiễm.

(Health GMP tổng hợp)

Content Protection by DMCA.com
Bình luận của bạn
Tin tức liên quan
  • CẤU TẠO KHỚP XƯƠNG BÌNH THƯỜNG
  • Đặc điểm đốt sống của phụ nữ mãn kinh
  • Các bệnh hay gặp ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh
  • Mãn kinh và chứng bệnh loãng xương, hiểu sao cho đúng?
  • Bổ sung đậu nành thời tiền mãn kinh: chắc xương, chậm mãn?