$nbsp;

X

METHYLSULFONYLMETHANE (MSM)- Những minh chứng hiệu quả trong điều trị bệnh lý xương khớp.

MSM là tên viết tắt của một hợp chất có chứa lưu huỳnh là Methyl Sulfonyl Methane. Đây là một hợp chất được rất nhiều nghiên cứu đánh giá các tác dụng có lợi cho sức khỏe nói chung và bệnh lý xương khớp nói riêng. MSM có nhiều trong các loại rau xanh nhưng dễ mất tác dụng khi chế biến thực phẩm.

METHYLSULFONYLMETHANE (MSM)- Những minh chứng hiệu quả trong điều trị bệnh lý xương khớp.

Các thực phẩm rau xanh có chứa nhiều MSM

Methyl Sulfonyl Methane (MSM) là gì?

Methyl sulfonyl methane (MSM) là một chất có rất nhiều trong trái cây và rau quả tươi. MSM đã trở nên phổ biến như một giải pháp tự nhiên cho điều trị chống viêm và giảm đau.

MSM thường được sử dụng bằng đường uống trong điều trị các chứng gây đau mãn tính, viêm xương, viêm khớp, viêm khớp dạng thấp, loãng xương, viêm quanh khớp,  viêm dây chằng, viêm gân, đau cơ xương, co thắt cơ, tình trạng xơ cứng bì, điều trị liền sẹo, vết rạn da, rụng tóc, viêm mắt, bệnh răng miệng, bệnh nướu răng, vết thương, vết cắt.

Ngoài ra, MSM cũng được dùng rỗng rãi trong điều trị dị ứng, táo bón, “ợ chua do dạ dày”, hội chứng tiền kinh nguyệt (đặc biệt là giảm đau bụng kinh), béo phì, huyết áp cao và cholesterol cao. Nó cũng được lựa chọn trong chế độ điều trị phối hợp với các thuốc cho bệnh tiểu đường loại 2, các vấn đề về gan, bệnh Alzheimer, khí phế thũng và viêm phổi, hội chứng mệt mỏi mãn tính, rối loạn tự miễn dịch (lupus ban đỏ hệ thống), nhiễm HIV và AIDS, và ung thư.

Những minh chứng khoa học cho tác dụng của Methyl Sulfonyl Methane (MSM)

* Viêm khớp, thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp và bệnh gout:

          Viêm khớp có các đặc điểm như gây đau, sưng, cứng khớp và hạn chế vận động của khớp bị viêm. Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh việc sử dụng MSM đơn độc hoặc phối hợp với Glucosamine sulfate cải thiện các triệu chứng viêm khớp rõ rệt, đặc biệt là tác dụng giảm đau khớp. Về cơ chế, MSM góp phần làm giảm tiết các cytokine gây viêm như TNF-α, IL-6; IL-8 (Kim, Kim et al. 2009, Kloesch, Liszt et al. 2011) hoặc làm giảm rõ rệt protein C gây phản ứng viêm (CRP) (Arafa, Hamuda et al. 2013). Một cơ chế nữa mới được biết đến gần đây và được nghiên cứu có hệ thống là vai trò của MSM trong việc giảm ảnh hưởng của collagenase đến các phản ứng viêm mô liên kết nói chung và cụ thể là viêm dây chằng và gân của khớp (Fusini, Bisicchia et al. 2016, Gupta 2016, Canata, d’Hooghe et al. 2017). Ngoài ra, chính sự có mặt của lưu huỳnh trong thành phần của MSM, có vai trò trong cơ chế ức chế hoạt động của COX-2. Điều này giải thích thêm cho cơ chế chống viêm hiệu quả của MSM (Oshima, Amiel et al. 2007, Kim, Kim et al. 2009, Kastl, Sauer et al. 2014, Ahn, Kim et al. 2015).

MSM và viêm khớp

Hình ảnh so sánh khớp gối bình thường và viêm khớp

Thử nghiệm trên lâm sàng cũng cho thấy hiệu quả cải thiện đau rất tốt ở các bệnh nhân viêm khớp khi sử dụng MSM đường uống, các thử nghiệm này đã sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giá đau điển hình như VAS, WOMAC hay SF36 (Usha and Naidu 2004, Debi, Fichman et al. 2007, Pagonis, Givissis et al. 2014). Đặc biệt trong nghiên cứu của Usha còn cho thấy hiệu quả ấn tượng của MSM phối hợp với glucosamine sulfate trong cải thiện không chỉ triệu chứng đau mà còn tình trạng sưng và hạn chế vận động của khớp viêm cũng được cải thiện rõ. Đặc biệt, kết quả này còn được lặp lại trong những nghiên cứu có quy mô lớn hơn về hiệu quả giảm đau và cải thiện tình trạng cứng khớp khi dùng phối hợp MSM và glucosamine (Magrans-Courtney, Wilborn et al. 2011, Nakasone, Watabe et al. 2011). Năm 2016, Fusini và cs nhận thấy hỗn hợp dùng đường uống có chứa methylsulfonylmethane (MSM), glucosamine sulfate, vitamin C, curcumin, boswellic acid có tác dụng tốt hơn rõ rệt làm cải thiện nhanh tình trạng viêm nhiễm tại khớp và còn có tác dụng bảo vệ dây chằng và sụn khớp (Fusini, Bisicchia et al. 2016).

Trong một nghiên cứu mới đây, Butawan và cs đã ghi nhận vai trò của MSM trong điều trị viêm khớp dạng thấp, cơ chế ở đây chính là việc giảm protein C phản ứng có liên quan đến bệnh viêm khớp dạng thấp (Butawan, Benjamin et al. 2017). Ngoài cơ chế nêu trên, nghiên cứu còn cho thấy sử dụng chế phẩm kết hợp giữa MSM và glucosamine có hiệu quả chống viêm bề mặt sụn khớp và có tác dụng hạn chế dày màng bao khớp gặp trong viêm khớp dạng thấp (Arafa, Hamuda et al. 2013).

Các nghiên cứu cũng đưa ra khuyến cáo về hiệu quả phối hợp của MSM và Devil’s claw có tác dụng trong chống viêm đối với các trường hợp bệnh nhân bị mắc bệnh Gout mức độ nhẹ và vừa.

 * Tác dụng bảo vệ sụn khớp

          Thoái hóa khớp, hay tổn thương không hồi phục của mô sụn khớp là diễn biến tất yếu của các bệnh lý viêm xương khớp (Berenbaum 2013). Chất căn bản sụn khớp, là một mô có cấu trúc xốp ngoại bào, hầu như không có mạch máu, quá trình dinh dưỡng của mô sụn được thực hiện chủ yếu bằng thẩm thấu các chất dinh dưỡng từ dịch khớp. Khi khớp bị viêm làm xuất hiện các cytokine gây viêm (TNF-α hay IL-1β) trong dịch khớp. Chính các cytokine này tham gia phá hủy chất căn bản của sụn, lâu dần dẫn đến phần mô sụn bị phả hủy không hồi phục (Kobayashi, Squires et al. 2005). MSM đã được chứng minh, làm giảm tiết và giảm tác dụng của các cytokine gây viêm (Oshima, Amiel et al. 2007, Ahn, Kim et al. 2015) và đặc biệt MSM có thể cải thiện những thay đổi trong chuyển hóa yếm khí của tế bào sụn (Caron and Caron 2015), từ đó làm cơ sở khẳng định khả năng bảo vệ mô sụn hiệu quả của MSM.

          Một điều thú vị, là trên thực nghiệm, các nhà khoa học đã ghi nhận khả năng “phá vỡ” các yếu tố gây viêm cận tiết và tự tiết, làm tăng cơ sở cho việc khẳng định tác dụng bảo vệ bề mặt sụn của MSM trong bệnh lý viêm xương khớp (Amiel, Healey et al. 2008). Trên hình ảnh mô bệnh học của viêm khớp dạng thấp, ở nhóm có sử dụng MSM phối hợp với glucosamine cho thấy giảm rõ tình trạng dày màng hoạt dịch khớp bất thường (đặc trưng của viêm khớp dạng thấp) (Arafa, Hamuda et al. 2013). Một nghiên cứu quy mô tiến hành năm 2013, một lần nữa khẳng định vai trò của MSM trong việc bảo vệ bề mặt sụn và làm chậm lại quá trình thoái hóa sụn khớp (Ezaki, Hashimoto et al. 2013).

 * Hiệu quả điều trị chống loãng xương của MSM

          Loãng xương thường diễn ra âm thầm, nó là hậu quả cuối cùng của sự rối loạn trong cân bằng tạo và hủy xương, trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Đã có rất nhiều nghiên cứu ở cấp độ sinh học phân tử cho thấy tác dụng của MSM trong việc điều hòa lại sự mất cân bằng giữa quá trình tạo và hủy xương. Cụ thể trong một số nghiên cứu cho thấy MSM thúc đẩy hoạt động chuyển hóa của các tế bào tạo cốt bào, từ đó can thiệp vào quá trình tái tạo và hình thành xương (Joung, Lim et al. 2012, Kim, Joung et al. 2016). Không chỉ thúc đẩy quá trình hình thành xương qua việc thúc đẩy hoạt động của tế bào tạo cốt bào trong tái tạo xương, MSM còn được chứng minh là có tác dụng chống lại các tế bào hủy cốt bào (Joung, Darvin et al. 2016). Đây chính là những căn cứ cho thấy vai trò của MSM trong việc góp phần ngăn chặn loãng xương cũng như bệnh lý thoái hóa xương.

 * Tăng khả năng vận động và chức năng sinh lý của khớp

          Một trong những biến chứng của các bệnh lý viêm xương khớp trước khi xuất hiện cứng khớp là hạn chế vận động của khớp. Trong một loạt nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng và điều tra cộng đồng cho thấy tác dụng của MSM trong việc cải thiện tầm hoạt động và chức năng sinh lý của khớp bằng các thang đo có thể lượng hóa rõ ràng. Kết quả cải thiện được đánh giá theo các tiêu chuẩn như WOMAC; SF36 hay ALF   (Debi, Fichman et al. 2007, Debbi, Agar et al. 2011, Pagonis, Givissis et al. 2014) nên rất có ý nghĩa và độ tin cậy cao. Các đánh giá đo lường về hiệu quả hoạt động của khớp gối bị tổn thương do luyện tập còn kết luận rằng MSM có thể hỗ trợ phục hồi tầm hoạt động của khớp tối đa và trả lại chức năng sinh lý hoàn toàn cho khớp gối (Melcher, Lee et al. 2017).

          Không chỉ được dùng đơn độc, hiệu quả của MSM khi dùng phối hợp với các thành phần như glucosamine sulfate, Devil’s claw, Indian Frankincense, Curcumin, acid Boswellic, chiết xuất lá ổi, chondroitin sulfate, vitamin C hay vitamin D đều cho thấy có tác dụng trong việc hồi phục khả năng vận động cho khớp bị tổn thương nguyên nhân do viêm xương khớp hay các chấn thương trong hoạt động thể lực (Vidyasagar, Mukhyaprana et al. 2004, Nakasone, Watabe et al. 2011, Gumina, Passaretti et al. 2012, Notarnicola, Maccagnano et al. 2016).

 * Tác dụng trong thoái hóa đĩa đệm cột sống

          Tác dụng của MSM cùng với glucosamine, vuốt quỷ (Devil’s claw) và curcumin cũng được đánh giá là có hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng thoái hóa đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm với các trường hợp bệnh nhân có kèm theo đau lưng hoặc đau vùng thắt lưng lan xuống chi dưới trong các bệnh lý về cột sống thắt lưng (Gagnier, Chrubasik et al. 2004, Tant, Gillard et al. 2005, Stuber, Sajko et al. 2011, Oltean, Robbins et al. 2014, Gagnier, Oltean et al. 2016).

* Tác dụng tăng cường sức bền cho cơ và dây chằng khớp

          Hoạt động thể lực kéo dài có thể gây ra những vi chấn thương cho cơ và phần mô liên kết xung quanh, dẫn đến những phản ứng viêm tại chỗ (Lewis, Ruby et al. 2012). Đã có những nghiên cứu chỉ ra MSM có vai trò như một tác nhân chống lại tình trạng này. Điều này được giải thích chính là nhờ vai trò của lưu huỳnh có trong phân tử MSM. Chúng có tác dụng ngăn ngừa tổn thương vi thể ở bắp cơ và tăng cường cho dây chằng khớp cũng như phần mô liên kết xung quanh (Oshima, Amiel et al. 2007, Barmaki, Bohlooli et al. 2012, Kastl, Sauer et al. 2014, Ahn, Kim et al. 2015).

          Methylsulfonylmethane còn được sử dụng đường uống với mục đích giảm đau cho gân và dây chằng khớp, cũng như với mục tiêu chống viêm xoang khớp, tái tạo màng bao hoạt dịch và dịch khớp (Elokely, Eldawy et al. 2011, Fusini, Bisicchia et al. 2016, Sousa-Lima, Park et al. 2016) .

 * Tác dụng chống gốc tự do và stress oxy hóa

          Các nghiên cứu cấp độ phân tử cho thấy MSM không chỉ có tác dụng trung hòa các gốc tự do mà còn có tác dụng ngăn chặn sự thoái hóa của ti thể dưới ảnh hưởng tấn công bởi các gốc peroxide. Ngoài ra MSM có thể khôi phục tình trạng sụt giảm các glutathione trong chuyển hóa tế bào và đưa chúng trở về mức bình thường (Amirshahrokhi, Bohlooli et al. 2011, Mohammadi, Najafi et al. 2012, Bohlooli, Mohammadi et al. 2013, Kamel and El Morsy 2013).

          Trên người, khi hoạt động thể lực gắng sức như luyện tập thể thao hay trong các tình trạng viêm nhiễm kéo dài làm cho các mô cơ quan hoạt động trong điều kiện thiếu oxy. Điều đó dẫn đến những suy giảm cấp tính gây ra tình trạng stress oxy hóa cho các phân tử protein, kinase creatinin, billirubin, glutathione và tăng stress oxy hóa của toàn cơ thể. Khi dùng MSM đường uống liên tục trong 28 ngày trước khi có hoạt động gắng sức cho thấy gia tăng khả năng chống chịu lại tình trạng này, làm cho cơ thể đỡ mệt mỏi hơn (Kalman, Feldman et al. 2012).

          Gần đây,để tăng tính thẩm thấu của MSM vào mô tổ chức, khi nghiên cứu chuyên sâu hỗn hợp gồm MSM và EDTA cho thấy tác dụng rất tốt đối với bệnh nhân bị đục thủy tinh thể và cải thiện đáng kể tình trạng phù nề ở tổ chức liên kết.

 * Tác dụng điều hòa miễn dịch và hỗ trợ điều trị ung thư

          Đây là tác dụng mới phát hiện của MSM và đang được quan tâm nghiên cứu nhiều về tác dụng chống ung thư của lưu huỳnh hữu cơ có trong MSM. Một loạt nghiên cứu cho thấy MSM có tác dụng hạn chế một số dòng tế bào ung thư của vú, thực quản, dạ dày, gan, đại tràng, bàng quang, da với kết quả rất hứa hẹn. Khi gây các mô hình ung thư trên động vật thực nghiệm đã cho thấy MSM có thể ức chế phát triển khối u một cách có ý nghĩa (Lim, Hong et al. 2012, Joung, Na et al. 2014, Nipin, Darvin et al. 2015). Các thử nghiệm ở người với MSM như một liệu pháp điều trị ung thư vẫn chưa được thực hiện; tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy sử dụng MSM có thể có liên quan với giảm nguy cơ ung thư phổi và ung thư đại trực tràng (Satia, Littman et al. 2009).

Tính an toàn của MSM dùng đường uống

          MSM khi dùng đường uống dung nạp tốt và tuyệt đối an toàn. Các mô hình trên động vật thực nghiệm về liều độc của MSM cho thấy đây là một chất có nhiều tác dụng với cơ thể mà tính an toàn lại cao. Theo Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ cho phép liều an toàn của MSM là 4845,6 mg/ngày (Butawan, Benjamin et al. 2017).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ahn, H., J. Kim, M.-J. Lee, Y. J. Kim, Y.-W. Cho and G.-S. Lee (2015). “Methylsulfonylmethane inhibits NLRP3 inflammasome activation.” Cytokine 71(2): 223-231.

Amiel, D., R. M. Healey and Y. Oshima (2008). “Assessment of methylsulfonylmethane (MSM) on the development of osteoarthritis (OA): An animal study.” The FASEB Journal 22(1 Supplement): 1094.1093-1094.1093.

Amirshahrokhi, K., S. Bohlooli and M. Chinifroush (2011). “The effect of methylsulfonylmethane on the experimental colitis in the rat.” Toxicology and applied pharmacology 253(3): 197-202.

Arafa, N. M., H. M. Hamuda, S. T. Melek and S. K. Darwish (2013). “The effectiveness of Echinacea extract or composite glucosamine, chondroitin and methyl sulfonyl methane supplements on acute and chronic rheumatoid arthritis rat model.” Toxicology and industrial health 29(2): 187-201.

Barmaki, S., S. Bohlooli, F. Khoshkhahesh and B. Nakhostin-Roohi (2012). “Effect of methylsulfonylmethane supplementation on exercise—induced muscle damage and total antioxidant capacity.” Journal of Sports Medicine and Physical Fitness 52(2): 170.

Berenbaum, F. (2013). “Osteoarthritis as an inflammatory disease (osteoarthritis is not osteoarthrosis!).” Osteoarthritis and Cartilage 21(1): 16-21.

Bohlooli, S., S. Mohammadi, K. Amirshahrokhi, H. Mirzanejad-asl, M. Yosefi, A. Mohammadi-Nei and M. M. Chinifroush (2013). “Effect of methylsulfonylmethane pretreatment on aceta-minophen induced hepatotoxicity in rats.” Iranian journal of basic medical sciences 16(8): 896.

Butawan, M., R. L. Benjamin and R. J. Bloomer (2017). “Methylsulfonylmethane: Applications and Safety of a Novel Dietary Supplement.” Nutrients 9(3): 290.

Canata, G. L., P. d’Hooghe and K. J. Hunt (2017). Muscle and Tendon Injuries: Evaluation and Management, Springer.

Caron, J. M. and J. M. Caron (2015). “Methyl Sulfone Blocked Multiple Hypoxia-and Non-Hypoxia-Induced Metastatic Targets in Breast Cancer Cells and Melanoma Cells.” PloS one 10(11): e0141565.

Debbi, E. M., G. Agar, G. Fichman, Y. B. Ziv, R. Kardosh, N. Halperin, A. Elbaz, Y. Beer and R. Debi (2011). “Efficacy of methylsulfonylmethane supplementation on osteoarthritis of the knee: a randomized controlled study.” BMC complementary and alternative medicine 11(1): 50.

Debi, R., G. Fichman, Y. B. Ziv, R. Kardosh, E. Debbi, N. Halperin and G. Agar (2007). “426 THE ROLE OF MSM IN KNEE OSTEOARTHRITIS: A DOUBLE BLIND, RANDOMIZED, PROSPECTIVE STUDY.” Osteoarthritis and Cartilage 15: C231.

Elokely, K. M., M. A. Eldawy, M. A. Elkersh and T. F. El-Moselhy (2011). “Fluorescence Spectrometric Determination of Drugs Containing ” International journal of analytical chemistry 2011.

Ezaki, J., M. Hashimoto, Y. Hosokawa and Y. Ishimi (2013). “Assessment of safety and efficacy of methylsulfonylmethane on bone and knee joints in osteoarthritis animal model.” Journal of bone and mineral metabolism 31(1): 16-25.

Fusini, F., S. Bisicchia, C. Bottegoni, A. Gigante, F. Zanchini and A. Busilacchi (2016). “Nutraceutical supplement in the management of tendinopathies: a systematic review.” Muscles, Ligaments and Tendons Journal 6(1): 48.

Gagnier, J. J., S. Chrubasik and E. Manheimer (2004). “Harpgophytum procumbens for osteoarthritis and low back pain: a systematic review.” BMC complementary and alternative medicine 4(1): 13.

Gagnier, J. J., H. Oltean, M. W. van Tulder, B. M. Berman, C. Bombardier and C. B. Robbins (2016). “Herbal medicine for low back pain: A Cochrane review.” Spine 41(2): 116-133.

Gumina, S., D. Passaretti, M. Gurzi and V. Candela (2012). “Arginine L-alpha-ketoglutarate, methylsulfonylmethane, hydrolyzed type I collagen and bromelain in rotator cuff tear repair: a prospective randomized study.” Current medical research and opinion 28(11): 1767-1774.

Gupta, R. C. (2016). Nutraceuticals: Efficacy, Safety and Toxicity, Academic Press.

Joung, Y. H., P. Darvin, D. Y. Kang, S. Nipin, H. J. Byun, C.-H. Lee, H. K. Lee and Y. M. Yang (2016). “Methylsulfonylmethane Inhibits RANKL-Induced Osteoclastogenesis in BMMs by Suppressing NF-κB and STAT3 Activities.” PloS one 11(7): e0159891.

Joung, Y. H., E. J. Lim, P. Darvin, S. C. Chung, J. W. Jang, K. Do Park, H. K. Lee, H. S. Kim, T. Park and Y. M. Yang (2012). “MSM enhances GH signaling via the Jak2/STAT5b pathway in osteoblast-like cells and osteoblast differentiation through the activation of STAT5b in MSCs.” PloS one 7(10): e47477.

Joung, Y. H., Y. M. Na, Y. B. Yoo, P. Darvin, N. Sp, D. Y. Kang, S. Y. Kim, H. S. Kim, Y. H. Choi and H. K. Lee (2014). “Combination of AG490, a Jak2 inhibitor, and methylsulfonylmethane synergistically suppresses bladder tumor growth via the Jak2/STAT3 pathway.” International journal of oncology 44(3): 883-895.

Kalman, D. S., S. Feldman, A. R. Scheinberg, D. R. Krieger and R. J. Bloomer (2012). “Influence of methylsulfonylmethane on markers of exercise recovery and performance in healthy men: a pilot study.” Journal of the International Society of Sports Nutrition 9(1): 46.

Kamel, R. and E. M. El Morsy (2013). “Hepatoprotective effect of methylsulfonylmethane against carbon tetrachloride-induced acute liver injury in rats.” Archives of pharmacal research 36(9): 1140-1148.

Kastl, L., S. Sauer, T. Ruppert, T. Beissbarth, M. Becker, D. Süss, P. Krammer and K. Gülow (2014). “TNF‐α mediates mitochondrial uncoupling and enhances ROS‐dependent cell migration via NF‐κB activation in liver cells.” FEBS letters 588(1): 175-183.

Kim, D. N., Y. H. Joung, P. Darvin, D. Y. Kang, N. Sp, H. J. Byun, K. H. Cho, K. D. Park, H. K. Lee and Y. M. Yang (2016). “Methylsulfonylmethane enhances BMP‑2‑induced osteoblast differentiation in mesenchymal stem cells.” Molecular medicine reports 14(1): 460-466.

Kim, Y. H., D. H. Kim, H. Lim, D.-Y. Baek, H.-K. Shin and J.-K. Kim (2009). “The anti-inflammatory effects of methylsulfonylmethane on lipopolysaccharide-induced inflammatory responses in murine macrophages.” Biological and Pharmaceutical Bulletin 32(4): 651-656.

Kloesch, B., M. Liszt, J. Broell and G. Steiner (2011). “Dimethyl sulphoxide and dimethyl sulphone are potent inhibitors of IL-6 and IL-8 expression in the human chondrocyte cell line C-28/I2.” Life sciences 89(13): 473-478.

Kobayashi, M., G. R. Squires, A. Mousa, M. Tanzer, D. J. Zukor, J. Antoniou, U. Feige and A. R. Poole (2005). “Role of interleukin‐1 and tumor necrosis factor α in matrix degradation of human osteoarthritic cartilage.” Arthritis & Rheumatology 52(1): 128-135.

Lewis, P. B., D. Ruby and C. A. Bush-Joseph (2012). “Muscle soreness and delayed-onset muscle soreness.” Clinics in sports medicine 31(2): 255-262.

Lim, E. J., D. Y. Hong, J. H. Park, Y. H. Joung, P. Darvin, S. Y. Kim, Y. M. Na, T. S. Hwang, S.-K. Ye and E.-S. Moon (2012). “Methylsulfonylmethane suppresses breast cancer growth by down-regulating STAT3 and STAT5b pathways.” PloS one 7(4): e33361.

Magrans-Courtney, T., C. Wilborn, C. Rasmussen, M. Ferreira, L. Greenwood, B. Campbell, C. M. Kerksick, E. Nassar, R. Li and M. Iosia (2011). “Effects of diet type and supplementation of glucosamine, chondroitin, and MSM on body composition, functional status, and markers of health in women with knee osteoarthritis initiating a resistance-based exercise and weight loss program.” Journal of the International Society of Sports Nutrition 8(1): 8.

Melcher, D. A., S.-R. Lee, S. A. Peel, M. R. Paquette and R. J. Bloomer (2017). “Effects of methylsulfonylmethane supplementation on oxidative stress, muscle soreness, and performance variables following eccentric exercise.” GAZZETTA MEDICA ITALIANA ARCHIVIO PER LE SCIENZE MEDICHE 176(5): 271-283.

Mohammadi, S., M. Najafi, H. Hamzeiy, N. Maleki-Dizaji, M. Pezeshkian, H. Sadeghi-Bazargani, M. Darabi, S. Mostafalou, S. Bohlooli and A. Garjani (2012). “Protective effects of methylsulfonylmethane on hemodynamics and oxidative stress in monocrotaline-induced pulmonary hypertensive rats.” Advances in pharmacological sciences 2012.

Nakasone, Y., K. Watabe, K. Watanabe, A. Tomonaga, I. Nagaoka, T. Yamamoto and H. Yamaguchi (2011). “Effect of a glucosamine-based combination supplement containing chondroitin sulfate and antioxidant micronutrients in subjects with symptomatic knee osteoarthritis: A pilot study.” Experimental and therapeutic medicine 2(5): 893-899.

Nipin, S., P. Darvin, Y. B. Yoo, Y. H. Joung, D. Y. Kang, D. N. Kim, T. S. Hwang, S. Y. Kim, W. S. Kim and H. K. Lee (2015). “The combination of methylsulfonylmethane and tamoxifen inhibits the Jak2/STAT5b pathway and synergistically inhibits tumor growth and metastasis in ER-positive breast cancer xenografts.” BMC cancer 15(1): 474.

Notarnicola, A., G. Maccagnano, L. Moretti, V. Pesce, S. Tafuri, A. Fiore and B. Moretti (2016). “Methylsulfonylmethane and boswellic acids versus glucosamine sulfate in the treatment of knee arthritis: Randomized trial.” International journal of immunopathology and pharmacology 29(1): 140-146.

Oltean, H., C. Robbins, M. W. van Tulder, B. M. Berman, C. Bombardier and J. J. Gagnier (2014). “Herbal medicine for low-back pain.” Cochrane Database Syst Rev 12.

Oshima, Y., D. Amiel and J. Theodosakis (2007). “213 THE EFFECT OF DISTILLED METHYLSULFONYLMETHANE (MSM) ON HUMAN CHONDROCYTES IN VITRO.” Osteoarthritis and Cartilage 15: C123.

Pagonis, T. A., P. A. Givissis, A. C. Kritis and A. C. Christodoulou (2014). “The Effect of Methylsulfonylmethane on Osteoarthritic Large Joints and Mobility.” International Journal of Orthopaedics 1(1): 19-24.

Satia, J. A., A. Littman, C. G. Slatore, J. A. Galanko and E. White (2009). “Associations of herbal and specialty supplements with lung and colorectal cancer risk in the VITamins and Lifestyle study.” Cancer Epidemiology and Prevention Biomarkers 18(5): 1419-1428.

Sousa-Lima, I., S.-Y. Park, M. Chung, H. J. Jung, M.-C. Kang, J. M. Gaspar, J. A. Seo, M. P. Macedo, K. S. Park and C. Mantzoros (2016). “Methylsulfonylmethane (MSM), an organosulfur compound, is effective against obesity-induced metabolic disorders in mice.” Metabolism 65(10): 1508-1521.

Stuber, K., S. Sajko and K. Kristmanson (2011). “Efficacy of glucosamine, chondroitin, and methylsulfonylmethane for spinal degenerative joint disease and degenerative disc disease: a systematic review.” The Journal of the Canadian Chiropractic Association 55(1): 47.

Tant, L., B. Gillard and T. Appelboom (2005). “Open-label, randomized, controlled pilot study of the effects of a glucosamine complex on low back pain.” Current therapeutic research 66(6): 511-521.

Usha, P. and M. Naidu (2004). “Randomised, double-blind, parallel, placebo-controlled study of oral glucosamine, methylsulfonylmethane and their combination in osteoarthritis.” Clinical drug investigation 24(6): 353-363.

Vidyasagar, S., P. Mukhyaprana, U. Shashikiran, A. Sachidananda, S. Rao, K. L. Bairy, S. Adiga and B. Jayaprakash (2004). “Efficacy and Tolerability of Glucosamine-Chondroitin Sulphate-Methyl Sulfonyl Methane (MSM) in Osteoarthritis of Knee in Indian Patients.” Iranian Journal of Pharmacology & Therapeutics 3(2): 61-65.

 (Health GMP tổng hợp và biên soạn)

Content Protection by DMCA.com
Bình luận của bạn
Tin tức liên quan