$nbsp;

X

Những nghiên cứu về giá trị của chế phẩm Devil’s Claw đối với bệnh lý xương khớp

Devil’s Claw dịch theo tiếng Việt có nghĩa là cây Móng quỷ hay Vuốt quỷ. Chúng còn có tên khoa học là Harpagophytum procumbens. Đây là loài cây mọc tự nhiên ở Châu Phi và được dùng trong các bài thuốc giảm đau bí truyền của thổ dân Châu Phi, nhưng cho đến nay do các giá trị khoa học và giá trị trong y học chúng trở thành loại cây chiến lược của một số nước Châu Phi. Chúng được trồng và thu lấy dược liệu khô xuất đi toàn thế giới mà chủ yếu là thị trường Canada, Mỹ và Châu Âu.

Tổng quan về cây vuốt quỷ (devil’s claw)

Cây vuốt quỷ (Devil’s claw) là một loại thảo mộc. Tên thực vật, Harpagophytum, có nguồn gốc từ châu Phi, tên của cây được đặt do quả của nó được bao phủ bởi các móc nhỏ, cho phép nó gắn vào lông của các loài động vật để phát tán. Củ và rễ của cây có công dụng để làm thuốc.

phẩm Devil’s Claw giúp chống viêm giảm đau khớp

Quả và cây Móng Quỷ (Harpagophytum Procumbens)

Devil’s claw được dùng rộng rãi trong các bài thuốc cổ truyền của thổ dân Châu Phi và Châu Mỹ trong điều trị: xơ vữa động mạch, viêm khớp, gout, đau cơ, căng cơ, đau lưng, viêm gân, đau ngực, đau dạ dày ruột, hoặc đau tim, sốt, và đau đầu kiểu migraine. Nó cũng được sử dụng cho các phụ nữ bị “đẻ khó”, hoặc có các vấn đề về kinh nguyệt, chống dị ứng, chán ăn, và một số bệnh lý của thận và bàng quang.

Trong một số trường hợp, người ta còn  sử dụng Devil’s claw đắp trên da để điều trị các vết thương ngoài da hoặc các bệnh lý khác của da.

Devil’s claw, chủ yếu có tác dụng như một chất chống viêm của tự nhiên và làm giảm đau cũng như giảm sưng nề.

Các minh chứng khoa học về tác dụng của Devil’s claw: chống viêm,  giảm đau

Chống viêm giảm Đau: Từ những năm 1960, các tác giả đã biết đến tác dụng giảm đau chống viêm của Devil’s claw, đặc biệt trong chống viêm khớp rất đặc hiệu. Một số nghiên cứu trên các tạp chí danh tiếng khẳng định vai trò của chất chiết xuất từ Devil’s claw dùng đường uống có tác dụng ức chế và giảm tiết một số cytokine gây viêm, rõ nhất là TNFα; IL-6; IL-1β; PG-E2 (Schulze-Tanzil, Hansen et al. 2004, Mncwangi, Chen et al. 2012). Đặc biệt là vai trò ức chế enzym COX-2 của chiết xuất Devil’s claw đã được rất nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả (Na, Mossanda et al. 2004). Năm 2007, Aberham và cs đã đánh giá trên lâm sàng và chứng minh hiệu quả giảm đau và chống viêm đặc hiệu của vuốt quỷ với bệnh viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do bệnh Gout và thoái hóa khớp. Đây chính là căn cứ đánh giá hiệu quả giảm đau và chống viêm của Devil’s claw, đặc biệt là đối với bệnh nhân thoái hóa khớp (Aberham, Schwaiger et al. 2007).

Các nghiên cứu về sau đã chứng minh hiệu quả sử dụng Devil’s claw đường uống có tác dụng rõ rệt trong giảm đau lưng. Các thành phần chiết xuất từ Devil’s claw, hoạt động như một số thuốc chống viêm không steroid, nhưng ưu điểm là có thể sử dụng kéo dài mà không có tác dụng phụ (đặc biệt là không có tác dụng phụ đối với dạ dày). Các nghiên cứu đều thống nhất hiệu quả rõ rệt trong việc ức chế và giảm tiết COX-2 ở những trường hợp dùng chế phẩm có chứa Devil’s claw kéo dài trong 6 tuần (Chrubasik, Thanner et al. 2002, Kaszkin, Beck et al. 2004, Abdelouahab and Heard 2008).

Có những nghiên cứu quy mô, dựa trên so sánh thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả giảm đau rất tốt của chế phẩm từ Devil’s claw trong điều trị giảm đau khớp, đặc biệt là đau lưng, đau hông và đau khớp gối trong bệnh lý thoái hóa khớp nói chung (Gagnier, Chrubasik et al. 2004, Oltean, Robbins et al. 2014).

Thoái hóa khớp. Có thể chỉ dùng Devil’s claw hoặc dùng kết hợp với các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) có thể đạt hiệu quả giảm đau nhanh, sau đó dùng duy trì chế phẩm của Devil’s claw như một liệu pháp giảm đau kéo dài và ít tác dụng phụ. Một số bằng chứng cho thấy sử dụng các chế phẩm có chứa thành phần  Devil’s claw cũng hoạt động tốt như indomethacin (thuốc giảm đau thuộc nhóm NSAIDs) để cải thiện cơn đau khớp xương ở hông và đầu gối sau 16 tuần điều trị. Trong một số trường hợp, người dùng chế phẩm có thành phần Devil’s claw có thể giảm liều NSAIDs với hiệu quả giảm đau tương đương. Bằng chứng này xuất phát từ một nghiên cứu sử dụng sản phẩm từ rễ và thân cây Devil’s claw, chứa 2% thành phần harpagoside của cây, cho hiệu quả giảm đau rõ rệt. Một nghiên cứu khác cho thấy, sử dụng hàng ngày 60 mg harpagoside chiết xuất từ cây vuốt quỷ cũng đạt hiệu quả tương tự (Ameye and Chee 2006, Brien, Lewith et al. 2006).

Đặc biệt, trong báo cáo tổng quan về tính an toàn của chế phầm vuốt quỷ, Brien S. và cs đã nhận thấy sản phẩm này đặc biệt an toàn với các bệnh nhân thoái hóa khớp phải sử dụng kéo dài (Brien, Lewith et al. 2006).

Ngoài tác dụng giảm đau và chống viêm dùng tương đối an toàn trên các bệnh nhân bị thoái hóa khớp hay viêm khớp, khi dùng kéo dài trên 12 tuần, vuốt quỷ còn có tác dụng bảo vệ sụn khớp khỏi tác nhân phá hủy của các yếu tố gây viêm (Chrubasik, Lindhorst et al. 2006, Wachsmuth, Lindhorst et al. 2011).

Tác dụng phụ và tính an toàn của vuốt quỷ

Có rất nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, khi sử dụng chế phẩm từ cây vuốt quỷ bằng đường uống là tuyệt đối an toàn cho hầu hết các trường hợp ở người lớn với liều thích hợp trong khoảng thời gian kéo dài lên tới một năm (Mncwangi, Chen et al. 2012). Tác dụng phụ thường gặp nhất là tiêu chảy. Khoảng 8% số người tham gia vào một nghiên cứu đã phát hiện bệnh tiêu chảy. Chỉ có 4%, các bệnh nhân có tiền sử bệnh lý dạ dày tá tràng, phản ánh có “cảm giác khó chịu” ở bụng khi dùng vuốt quỷ kéo dài. Các tác dụng phụ khác, có thể thoáng qua, bao gồm: buồn nôn, đau bụng, nhức đầu, ù tai, chán ăn. Các phản ứng phụ ít gặp hơn nữa bao gồm: dị ứng da, rối loạn kinh nguyệt, và thay đổi huyết áp.

!!! Cảnh báo

+ Tránh sử dụng đối với phụ nữ có thai và cho con bú.

+ Các vấn đề về tim mạch: vì cây vuốt quỷ có thể ảnh hưởng đến nhịp tim và huyết áp.

+ Bệnh tiểu đường: Đặc biệt cây vuốt quỷ có thể làm giảm lượng đường trong máu. Nên thận trọng tham khảo liều thuốc chống đái đường trên các bệnh nhân có sử dụng chế phẩm có chứa vuốt quỷ.

+ Cần thận trọng khi sử dụng kèm với những thuốc: omeprazole, lansoprazole; Diazepam; Carisoprodol; Nelfinavir; meloxicam (Mobic), and piroxicam (Feldene); celecoxib (Celebrex); amitriptyline; warfarin. Nếu kết hợp, cần hạ liều các thuốc nêu trên, vì lý do Devil’s claw ức chế cạnh tranh tại các thụ thể của hệ thống Cyt tại gan.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Abdelouahab, N. and C. Heard (2008). “Effect of the major glycosides of Harpagophytum procumbens (Devil’s Claw) on epidermal cyclooxygenase-2 (COX-2) in vitro.” Journal of natural products 71(5): 746-749.

Aberham, A., S. Schwaiger, H. Stuppner and M. Ganzera (2007). “Quantitative analysis of iridoids, secoiridoids, xanthones and xanthone glycosides in Gentiana lutea L. roots by RP-HPLC and LC–MS.” Journal of Pharmaceutical and Biomedical Analysis 45(3): 437-442.

Ameye, L. G. and W. S. Chee (2006). “Osteoarthritis and nutrition. From nutraceuticals to functional foods: a systematic review of the scientific evidence.” Arthritis research & therapy 8(4): R127.

Brien, S., G. T. Lewith and G. McGregor (2006). “Devil’s Claw (Harpagophytum procumbens) as a treatment for osteoarthritis: a review of efficacy and safety.” Journal of Alternative and Complementary Medicine 12(10): 981-993.

Chrubasik, J., E. Lindhorst, E. Neumann, U. Gerlach, M. Faller-Marquardt, T. Torda, U. Müller-Ladner and S. Chrubasik (2006). “Potential molecular basis of the chondroprotective effect of Harpagophytum procumbens.” Phytomedicine 13(8): 598-600.

Chrubasik, S., J. Thanner, O. Künzel, C. Conradt, A. Black and S. Pollak (2002). “Comparison of outcome measures during treatment with the proprietary Harpagophytum extract Doloteffin® in patients with pain in the lower back, knee or hip.” Phytomedicine 9(3): 181-194.

Gagnier, J. J., S. Chrubasik and E. Manheimer (2004). “Harpgophytum procumbens for osteoarthritis and low back pain: a systematic review.” BMC complementary and alternative medicine 4(1): 13.

Kaszkin, M., K. Beck, E. Koch, C. Erdelmeier, S. Kusch, J. Pfeilschifter and D. Loew (2004). “Downregulation of iNOS expression in rat mesangial cells by special extracts of Harpagophytum procumbens derives from harpagoside-dependent and independent effects.” Phytomedicine 11(7): 585-595.

Mncwangi, N., W. Chen, I. Vermaak, A. M. Viljoen and N. Gericke (2012). “Devil’s Claw—A review of the ethnobotany, phytochemistry and biological activity of Harpagophytum procumbens.” Journal of ethnopharmacology 143(3): 755-771.

Na, H. K., K. S. Mossanda, J. Y. Lee and Y. J. Surh (2004). “Inhibition of phorbol ester‐induced COX‐2 expression by some edible African plants.” Biofactors 21(1‐4): 149-153.

Oltean, H., C. Robbins, M. W. van Tulder, B. M. Berman, C. Bombardier and J. J. Gagnier (2014). “Herbal medicine for low-back pain.” Cochrane Database Syst Rev 12.

Schulze-Tanzil, G., C. Hansen and M. Shakibaei (2004). “Analgesics. Antiphlogistics. Antirheumatic Drugs-Effect of a Harpagophytum procumbens DC Extract on Matrix Metalloproteinases in Human Chondrocytes in vitro.” Arzneimittelforschung 54(4): G213.

Wachsmuth, L., E. Lindhorst, S. Wrubel, H. Hadzhiyski, M. Hudelmaier, F. Eckstein and S. Chrubasik (2011). “Micro‐Morphometrical Assessment of the Effect of Harpagophytum procumbens Extract on Articular Cartilage in Rabbits with Experimental Osteoarthritis using Magnetic Resonance Imaging.” Phytotherapy Research 25(8): 1133-1140.

 (Health GMP tổng hợp và biên soạn)

Content Protection by DMCA.com
Bình luận của bạn
Tin tức liên quan