$nbsp;

X

VIÊM GAN VIRUS (Phần 12): Viêm gan B – Dự phòng và tiên lượng

Có thể sử dụng vắc xin dự phòng để tránh nguy cơ mắc virus gây bệnh viêm gan B. Sử dụng vắc xin khi nào và cách tiêm phòng vắc xin viêm gan B đúng cách là như thế nào?

viêm gan virus, viêm gan B, Hetik, bảo vệ gan

PHÒNG CHỐNG VIÊM GAN B

Dự phòng trước phơi nhiễm với viêm gan B

Vắc-xin viêm gan B cần được chỉ định với tất cả mọi người, đặc biệt ở những người thuộc nhóm nguy cơ cao, vắc-xin viêm gan B đã được chứng minh là an toàn. HBsAg được sử dụng để sản xuất vắc-xin viêm gan B (đơn kháng nguyên), vắc-xin viêm gan B cũng có thể kết hợp để phòng ngừa viêm gan A, Haemophilus cúm B, Não mô cầu, bạch hầu, uốn ván, ho gà, và bại liệt.

Lịch tiêm phòng HBV bao gồm ba mũi tiêm bắp vào thời điểm 0, 1 và 6 tháng ở trẻ sơ sinh hoặc người lớn khỏe mạnh. Phản ứng kháng thể bảo vệ là >90% sau liều thứ ba. Phản ứng bảo vệ của kháng thể suy giảm theo tuổi. Hút thuốc, béo phì, di truyền, và tình trạng suy giảm miễn dịch có thể giảm tác dụng bảo vệ từ tiêm phòng. Đáp ứng sau khi tiêm chủng được đánh giá bằng anti-HBs (>10 mlU/mL).

Sàng lọc trước khi tiêm vacxin để phát hiện sự phơi nhiễm hoặc lây nhiễm trước đó được khuyến cáo với nhóm có nguy cơ cao để tránh tiêm phòng cho những bệnh nhân đã hồi phục hoặc những bệnh nhân đã nhiễm bệnh mạn tính. Kiểm tra sau tiêm chủng (để đánh giá phản ứng vắc-xin) được khuyến cáo cho các đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao.

Liều bổ sung, liều cao hơn, hoặc tái chủng ngừa có thể được xem xét trong số những đối tượng không đáp ứng và đáp ứng kém để kích thích khả năng bảo vệ của hệ miễn dịch. Liều tăng cường có thể cần thiết đối với những người suy giảm miễn dịch.

 

Dự phòng sau phơi nhiễm

Trẻ sinh ra từ người mẹ có HBsAg dương tính nên được chủng ngừa viêm gan B và globulin viêm gan B miễn dịch (hepatitis B immunoglobulin-HBIg) 0,5 mL trong vòng 12 giờ sau khi được sinh ra. Trẻ sơ sinh được tiêm chủng cần được kiểm tra tại thời điểm 12 tháng tuổi về HBsAg, anti-HBs và anti-HBc. Sự có mặt của HBsAg chỉ ra rằng trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh. Sự có mặt của cả anti-HBs và anti-HBc cho thấy rằng sự lây nhiễm đã xảy ra, nhưng tình trạng đã được điều chỉnh do dự phòng về miễn dịch và khả năng miễn dịch có thể kéo dài. Sự có mặt của anti-HBs đơn độc là biểu hiện của khả năng miễn dịch của vắc-xin.

Các bạn tình của các đối tượng có HBV và những người bị kim đâm được chỉ định điều trị HBIg (0,04 đến 0,07 mL/kg) và liều vắc-xin viêm gan B đầu tiên tại vị trí khác nhau càng sớm càng tốt (tốt nhất trong vòng 48 giờ nhưng không quá 7 ngày sau khi phơi nhiễm). Liều thứ hai của HBIg nên dùng 30 ngày sau khi phơi nhiễm, và lịch tiêm chủng đã hoàn tất.

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HBIg kết hợp với một nucleotide hay nucleoside nên được sử dụng ngay sau khi ghép gan để ngăn ngừa HBV tái phát.

 

Khi nào phải xử trí phẫu thuật trong viêm gan B?

Ghép gan được chỉ định đối với các bệnh nhân có bệnh gan tiến triển và/hoặc ung thư gan do nhiễm HBV.

 

KẾT QUẢ, TIÊN LƯỢNG BỆNH VIÊM GAN B

- Tùy thuộc vào tuổi mắc bệnh, bệnh nhân có thể thanh thải hoặc tiến triển thành mạn tính.

+ Trẻ em dưới 5 tuổi: 90% có thể tiến triển thành nhiễm HBV mạn tính.

+ Người lớn: 5% đến 10% có thể kiểu gen thành viêm gan B mạn tính.

- Viêm gan B mạn tính

+ Tỷ lệ mắc và tử vong ỏ bệnh nhân mắc HBV mạn tính có liên quan đến nồng độ và sự nhân lên liên tục của virus. Thanh thải tự nhiên của HBsAg xảy ra ỏ 0,5% bệnh nhân mỗi năm.

+ Sau khi chẩn đoán HBV mạn tính, tỷ lệ cộng gộp sau 5 năm kiểu gen thành xơ gan dao động từ 8% đến 20%.

+ Trong số các bệnh nhân viêm gan B mạn tính, 5% đến 10% kiểu gen thành ung thư tế bào gan có hoặc không có xơ gan.

Content Protection by DMCA.com
Bình luận của bạn
Tin tức liên quan